Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (Q1.3)
  • Lượt xem: 4214

CÁC TỔ SƯ Ở TÂY THIÊN

Tổ thứ nhất: TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP

T

ổ thứ nhất, Tôn giả Đại Ca Diếp, người nước Ma-kiệt-đà, họ Bà-la-môn, cha tên Ấm Trạch, mẹ tên Hương Chí. Trước kia ngài là thợ đúc vàng, hiểu thấu tính vàng, uốn nắn tuỳ ý.

Phó Pháp truyện ghi lại: Từng trong kiếp xa xưa, sau khi đức Phật Tì Bà Thi nhập Niết-bàn, tứ chúng xây tháp, mặt tượng Phật sắc vàng trong tháp lâu ngày bị sứt mẻ. Lúc ấy, có cô gái nhà nghèo đem vàng đến người thợ vàng, nhờ dát lại tượng Phật. Nhân đó, cả hai cùng phát nguyện:

Nguyện chúng ta hai người sẽ là vợ chồng không cưới hỏi.

Do nhân duyên đó nên qua 91 kiếp, thân sắc ngài đều một màu vàng. Sau đó sinh vào cõi Phạm thiên; hết tuổi thọ cõi trời, ngài thác sinh vào gia đình Bà-la-môn tại xứ Ma-kiệt-đà cõi Trung thiên tên Ca Diếp Ba - có nghĩa là Ẩm Quang Thắng Tôn (Ánh sáng của ngài che khuất các ánh sáng khác) bởi lấy sắc vàng làm hiệu vậy.

Ngài lập chí xuất gia, mong cầu cứu độ chư hữu tình.

Phật bảo:

- Tỉ-kheo khéo đến, râu tóc tự rụng, cà-sa khoác lên người, được xưng tán hạng nhất trong chúng.

Phật lại bảo:

- Ta đem pháp nhãn thanh tịnh trao lại cho ông. Hãy luôn truyền bá đừng để đoạn dứt.

Kinh Niết Bàn chép: Bấy giờ, khi Thế Tôn định vào Niết-bàn Ca Diếp không có mặt tại hội chúng. Phật bảo các đại đệ tử, đợi khi Ca Diếp đến mới tuyên dương Chánh pháp nhãn tạng.

Lúc ấy, Ca Diếp đang ở tại núi Kỳ-xà-quật, hang Tân-bát-la (Ngũ Đăng chép Tất-bát-la) thấy ánh sáng trưng bèn nhập định Tam muội, dùng Thiên nhãn thanh tịnh, quán thấy Thế Tôn đang bên bờ sông Hi Liên nhập Bát Niết-bàn. Ngài liền báo cùng môn đồ:

- Như Lai nhập Niết-bàn, sao mà mau quá vậy !

Bèn trở về bên khoảng hai cây Sa-la quyến luyến than khóc Phật từ trong kim quan thò hai chân ra ngoài.

Ca Diếp nói cùng các Tỉ-kheo:

- Phật đã trà tì xong, phần xá-lợi kim cương không phải việc của chúng ta, việc chúng ta là kết tập Chánh pháp, không để đoạn diệt.

Bèn nói kệ rằng:

Đệ tử Như Lai

Đừng bát Niết-bàn

Ai đắc thần thông

Hãy dự kết tập.

Thế là kẻ đắc thần thông đều thảy đến kết tập tại hang Tân-bát-la, nơi núi Kỳ-xà-quật thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, A Nan do lậu chưa dứt nên không được vào trong hội, phải đợi sau đó chứng quả A-la-hán mới được vào hội. Ca Diếp thưa với mọi người rằng:

- Tỉ-kheo A Nan đây, nghe rộng chính xác, có đại trí tuệ, thường theo Như Lai, Phạm hạnh thanh tịnh. Phật pháp mà ông nghe qua như nước đổ vào bình, không hề rơi sót, Phật từng khen là thông minh đệ nhất, nên mời kết tập tạng Tu-đa-la.

Đại chúng đều tán đồng. Ca Diếp bảọ A Nan:

- Giờ, ông nên tuyên Chánh pháp.

A Nan nghe nói thọ nhận, quán sát tâm các chúng và đọc kệ:

Phiên âm:

Tỉ-kheo chư quyến thuộc

Ly Phật bất trang nghiêm

Do như hư không trung

Chúng tinh chi vô nguyệt.

Tạm dịch:

Tỉ-kheo các quyến thuộc

Lìa Phật, chẳng nghiêm trang

Như giữa trời hư không

Các sao không có trăng.

Nói kệ xong rồi, làm lễ đảnh túc chư tăng, lên pháp tòa mà nói lời này:

- Như vầy tôi nghe, một thuở nọ, Thế Tôn tại nơi kia thuyết kinh giáo ấy, cho đến trời, ngưởi đều lễ bái hoan hỷ tuân theo.

Bấy giờ, Ca Diếp bèn hỏi các Tỉ-kheo:

- Những điều A Nan nói, có phải chẳng sai trật không ?

Chúng đều đáp:

- Không khác với lời dạy của Thế Tôn.

Ca Diếp bảo cùng A Nan:

- Ta năm nay chẳng còn trụ lâu, nay đem Chánh pháp giao lại cho ông. Ông nên khéo gìn giữ lấy. Hãy nghe kệ của ta:

Phiên âm:

Pháp pháp bản lai pháp

Vô pháp vô phi pháp

Hà ư nhất pháp trung

Hữu pháp hữu hà pháp.

Tạm dịch:

Pháp pháp xưa nay pháp

Không pháp, không phi pháp

Cớ sao trong một pháp

Có pháp, có chẳng pháp.

Nói kệ xong, ngài bèn mang y Tăng-già-lê vào núi Kê Túc chờ đợi Phật Di Lặc xuất thế. Lúc ấy nhằm thời Chu Hiếu vương thứ 5, năm Bính Thìn. (Bản Tống, Nguyên chú: ‘Năm thứ 5 nên sửa lại là năm thứ 4’).

PHẦN PHỤ LỤC

Tôn giả nhân có người ngoại đạo đến hỏi:

- Thế nào là cái ngã của tôi ?

Tôn giả đáp:

- Kẻ tìm cái ngã là cái ngã của ông đây.

Ngoại đạo nói:

- Đấy là cái ngã của tôi, còn cái ngã của thầy ở đâu ?

Tôn giả đáp:

- Ông hỏi, ta tìm.

Lần nọ, Tôn giả dậm nền đất (đạp nê thứ). Một chú Sa-di nhìn thấy hỏi:

- Sao thầy tự làm vậy ?

Tôn giả nói:

- Nếu ta không làm thì ai làm việc đó cho ta.

(Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 1)

 

 

 

Tổ thứ hai: TÔN GIẢ A NAN

Tổ thứ hai, Tôn giả A Nan, là người thành Vương-xá, thuộc dòng Sát-đế-lợi. Cha là vua Hộc Phạn chính là em họ với Đức Phật. Tiếng Phạn A Nan Đà có nghĩa là khánh hỷ, hoặc hoan hỷ vì ngài sinh vào đêm Như Lai thành đạo nên có tên như vậy.

A Nan là bậc đa văn bác đạt, trí lực thông suốt. Thế Tôn cho là Người nhớ giỏi bậc nhất nên thường khen ngợi. Lại thêm nhiều đời trước tích tập lắm công đức, thọ trì Pháp tạng như nước rót vào bình, do đó, được Phật nhận làm thị giả.

PHẦN PHỤ LỤC

Ngày nọ, A Nan bạch Phật:

- Hôm nay con vào thành, thấy một chuyện lạ.

Phật hỏi:

- Thấy chuyện gì lạ ?

Tôn giả đáp:

- Khi vào thành con thấy một đám ca hát nhảy múa, lúc ra thành thì thấy hết thảy đều đã chết.

Phật nói:

- Ta hôm qua vào thành cũng gặp một chuyện lạ lùng.

Tôn giả nói:

- Xin hỏi Thế Tôn thấy gì lạ ?

Phật bảo:

- Lúc ta vào thành thấy một đám ca hát nhảy múa, lúc ra khỏi thành vẫn thấy đám ca hát nhảy múa đó.

(Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 1)

A Nan ngày nọ hỏi Ca Diếp:

- Sư huynh ! Thế Tôn ngoài việc truyền chiếc y vàng cho huynh, còn truyền gì khác nữa ?

Ca Diếp gọi A Nan, Tôn giả ứng:

- Dạ !

Ca Diếp nói:

- Hãy hạ cột treo phía trước cửa chùa đi !

                                       (Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 1)

***

Về sau, vua A-xà-thế bạch:

- Này bậc nhân giả! Như Lai, Ca Diếp, hai thầy Niết-bàn rồi tôi vì bận nhiều việc nên không nhìn thấy, vậy khi nào Tôn giả Niết-bàn xin thương tình đến cáo biệt.

A Nan đồng ý.

Sau đó, ngài tự nghĩ: “Thân ta mong manh dễ hoại, tựa như bọt tụ, lại thêm đã già yếu, há có thể dài lâu, mà ta thì đã hẹn với vua A-xà-thế”.

Ngài bèn đi đến thành vua báo:

- Ta muốn vào Niết-bàn, nay đến từ biệt vua vậy.

Người gác cổng nói:

- Vua đã ngủ, không thể báo được.

Ngài nói:

- Đợi vua thức dậy nên báo lại giùm ta.

Lúc ấy, vua A-xà-thế đang trong mộng thấy chiếc lọng trang sức bảy báu với ngàn vạn ức người đến vây quanh chiêm ngưỡng; bỗng chốc mưa bão ập tới, xô gãy cán lọng, vàng ngọc chuỗi châu báu rơi vãi xuống đất, lòng hết sức kinh dị.

Khi tỉnh dậy, lính báo lại sự việc, vua nghe gào khóc thất thanh, cảm thương cả đất trời, bèn đến thành Tì-xá-li, thấy Tôn giả đang ở giữa dòng sông Hằng Hà, xếp bằng an tọa. Vua bèn lễ bái và đọc kệ rằng:

Phiên âm:

Khể thủ tam giới tôn

Khí ngã nhi chí thử

Tạm bằng bi nguyện lực

Thả mạc Bát Niết-bàn.

Tạm dịch:

Cúi lạy Tôn ba cõi

Bỏ con mà đến đây

Nương nguyện từ bi lực

Đừng vội Bát Niết-bàn.

Lúc ấy, vua Tì-xá-li cũng đang ở bờ sông bên kia nói kệ:

Phiên âm:

Tôn giả nhất hà tốc

Nhi quy tịch diệt trường

Nguyện trụ tu du gian

Nhi thọ ư cúng dường.

Tạm dịch:

Tôn giả sao quá nhanh

Trở về tịch diệt trường

Nguyện xin dừng giây lát

Thọ nhận con cúng dường

Tôn giả A Nan thấy hai vua đều thành tâm thỉnh nguyện, bèn đọc kệ:

Phiên âm:

Nhị vương thiện nghiêm trụ

Vật vi khổ bi luyến

Niết-bàn đương ngã tịnh

Nhi vô chư hữu cố.

Tạm dịch:

Hai vua hãy ở lại

Đừng buồn khổ luyến lưu

Ta an tịnh Niết-bàn

Chẳng có chi các hữu.

Tôn giả lại nghĩ: “Nếu ta thiên về một nước, các nước khác sẽ tranh nhau, không ở nơi nào mới là bình đẳng độ khắp chúng hữu tình”. Ngài bèn ở chỗ giữa sông Hằng mà tịch diệt. Lúc bấy giờ, khắp cả núi non đất đai, sáu điệu chấn động. Có 500 tiên nhân trên Tuyết Sơn thấy điềm lành ứng hiện bay trên không mà tới, làm lễ đảnh túc tôn giả xong, quỳ dài (kiểu người Hồi) xuống nói:

Nay nơi trưởng lão

Nên chứng pháp lôi

Nguyện rũ đại từ

Độ thoát chúng tôi.

Tôn giả đương nhiên nhận lời thỉnh nguyện. Ngài biến sông Hằng Hà thành đất vàng, thuyết đại pháp cho các chúng tiên. Tôn giả lại nghĩ: “Chúng đệ tử nào đáng được độ trước nên đến đây tập họp”. Trong phút chốc năm trăm La-hán từ trên không đáp xuống, làm lễ thọ giới cụ túc xuất gia cho chư tiên nhân. Trong số tiên nhân có hai La-hán là Thương Na Hòa Tu và Mạt Điền Để Ca mà Tôn giả biết là bậc pháp khí, bèn bảo họ rằng:

- Xưa, Như Lai đem đại pháp nhãn trao phó Đại Ca Diếp. Ca Diếp nhập định trao lại cho ta, ta nay sắp diệt nên giao lại cho ông. Ông nhận pháp của ta, nên nghe ta đọc kệ:

Phiên âm:

Bản lai phó hữu pháp

Phó liễu ngôn vô pháp

Các các tu tự ngộ

Ngộ liễu vô vô pháp.

Tạm dịch:

Xưa nay trao pháp không

Truyền xong, nói pháp không

Tất thảy nên tự ngộ

Ngộ xong pháp nào không.

Tôn giả truyền Pháp nhãn xong liền bay bổng lên hư không, tự hiện 18 biến, thể hiện uy lực dũng mãnh Tam-muội, phân thân làm bốn phần: một phần phụng cõi trời Đao-lợi, một phần phụng Ta-kiệt-la Long cung, một phần phụng vua Tì-xá-li, một phần cho vua A-xà-thế. Các nơi này đều lập tháp báu cúng dường. Khi ấy nhằm thời Lệ vương, năm thứ 12, Quí Tỵ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổ thứ ba: TÔN GIẢ THƯƠNG NA HÒA TU

 

T

ổ thứ ba, Thương Na Hòa Tu, người nước Ma-đột-la. Ngài còn có tên Xá-na-bà-tư. Họ Tì-xá-đa, cha tên Hương Thắng mẹ tên Kiều-xa-da; mang thai Tôn giả sáu năm mới sinh. Tiếng Phạn, Thương Nặc Ca có nghĩa “Tự nhiên y phục” là tên loại cỏ đẹp Cửu chi ở Tây Vức. Khi có Thánh nhân giáng sinh loại cỏ này mọc ở vùng đất tịnh khiết. Lúc Hòa Tu sinh ra, điềm cỏ lành ứng hiện.

Xưa, khi Như Lai hành hóa đến nước Ma-đột-la, thấy rừng xanh rờn cành lá chằng chịt, ngài bảo A Nan:

- Rừng này tên Ưu-lưu-tòa, sau khi ta diệt độ 100 năm, có tỳ-kheo Thương Na Hòa Tu sẽ chuyển Pháp luân nơi đây.

Sau 100 năm, Hòa Tu quả được sanh ra và xuất gia chứng đạo thọ nhận Pháp nhãn của ngài A Nan (Tôn giả Khánh Hỷ) giáo hóa các chúng hữu tình. Khi dừng tại rừng này, ngài đã hàng phục hai con rồng lửa quy thuận Phật giáo. Rồng nhân đó hiến cho đất này kiến lập ngôi đền Phật.

Tôn giả hóa đạo đã lâu, nghĩ phải truyền lại Chánh pháp. Sau đó, tại nước Sất-lợi thu nhận Ngài Ưu Ba Cúc Đa làm thị giả.

Ngài hỏi Cúc Đa:

- Ông bao nhiêu tuổi ?

Đáp:

- Con 17 tuổi.

- Thân ông 17 hay tánh 17 ?

Đáp:

- Tóc thầy đã bạc, vậy tóc bạc hay tâm bạc ?

Tôn giả nói:

- Ta tuy tóc bạc chứ tâm không bạc.

Cúc Đa đáp:

- Thân con 17 tuổi chứ tánh không phải 17.

Tôn giả biết là bậc pháp khí. Ba năm sau, Cúc Đa xuống tóc thọ cụ túc giới. Tôn giả nói:

-Xưa, Đức Như Lai đem Pháp nhãn vô thượng truyền lại Ca Diếp trao truyền nhau lần hồi cho đến ta. Nay ta trao lại cho ông, đừng để dứt đoạn. Ông thọ giáo pháp ta, vậy hãy nghe kệ ta đây:

Phiên âm:

Phi pháp diệc phi tâm

Vô tâm diệc vô pháp

Thuyết thị tâm pháp thời

Thị pháp phi tâm pháp.

Tạm dịch:

Chẳng pháp cũng chẳng tâm

Không tâm cũng không pháp

Khi nói tâm pháp ấy

Pháp ấy chẳng tâm pháp.

Nói kệ xong, ngài đến ở ẩn trong núi Tượng Bạch phía Nam nước Kế Tân.

Sau đó, trong định Tam-muội, ngài thấy học trò Cúc Đa có 500 chúng đồ đệ thường đâm ra biếng nhác, khinh mạn. Tôn giả bèn đi đến nơi, dùng uy lực dũng mãnh Tam-muội điều phục bọn họ, rồi nói kệ:

Phiên âm:

Thông đạt phi bỉ thử

Chí Thánh vô trường đoản

Nhữ trừ khinh mạn ý

Tất đắc A-la-hán.

 Tạm dịch:

Suốt thông không đây đó

Chí thánh chẳng dở hay

Ông bỏ lòng khinh mạn

A-la-hán chứng ngay.

Năm trăm Tỉ-kheo nghe kệ vâng lời thực hành, thảy đều dứt được các lậu, Tôn giả bèn hóa lửa Tam-muội 18 biến tự trà tỳ lấy thân. Cúc Đa thu nhận Xá-lợi táng tại núi Phạn-ca-la. Năm trăm Tỉ-kheo cầm cờ phướn nghinh đón đón đến đạo tràng của mình xây tháp cúng dường.

Lúc ấy nhằm thời vua Tuyên Vương, năm thứ 22, Ất Mùi. (Chú: Bản Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều chép là 23).

 

 

 

Tổ thứ tư: TÔN GIẢ ƯU BA CÚC ĐA

 

T

ổ thứ tư, Ưu Ba Cúc Đa, người nước Sất-lợi, ngài còn tên khác là Ưu-ba-quật-đa hay Ổ-ba-cúc-đa, thuộc dòng họ Thủ-đà, cha là Thiện Ý. Tổ xuất gia năm 17 tuổi đến năm 20 tuổi chứng đạo. Sau khi chứng đạo, Cúc Đa đi các phương truyền bá đạo pháp. Đến nước Ma-đột-la, người được ngài độ rất đông, do đó mà cung ma chấn động, chúa ma Ba Tuần rầu rĩ lo sợ, bèn đem hết ma lực của ma làm hại Chánh pháp.

Tôn giả tức thì nhập định Tam-muội, quán sát nguyên cớ. Ba Tuần nhân đấy lén mang xâu chuỗi Anh Lạc quàng vào cổ Tôn giả. Khi Tôn giả ra khỏi định, Ngài đem ba xác chết người, chó, rắn hóa thành vòng hoa xinh đẹp, ủy dụ Ba Tuần:

- Ngươi cho ta xâu Anh Lạc thật là trân quý, kỳ diệu. Ta có vòng hoa đẹp đây tặng bù lại cho ngươi.

Ba Tuần mừng lắm, đưa cổ nhận tròng vòng. Vòng hoa tức thì biến ra ba loại thây hôi thối, giòi bọ lúc nhúc. Ba Tuần kinh tởm quá sinh ra buồn lo, y dùng hết thần lực cũng không tháo ra được, bèn bay lên cõi trời Lục Dục báo các Thiên chúa nơi này, lại đến nhờ Phạn vương giải thoát dùm.

Các thiên đều nói:

- Học trò Như Lai dùng thần lực biến hiện, bọn ta phàm lậu làm sao giải được ?

Ba Tuần hỏi:

- Vậy phải làm sao ?

Phạn vương bảo:

- Ngươi nên quy phục Tôn giả sẽ được giải thoát.

Và ngài bèn nói kệ khuyên hắn hồi hướng rằng:

Phiên âm:

Nhược nhân địa đảo

Hoàn nhân địa khởi

Ly địa cầu khởi

Chung vô kỳ lý.

Tạm dịch:

Nếu người ngã từ đất

Phải từ đất đứng lên

Muốn đứng không cần đất

Lý ấy tất không nên.

Ba Tuần nghe lời giáo hóa, liền rời cung trời đến làm lễ đảnh túc Tôn giả, thành tâm sám hối. Tôn giả nói:

- Ngươi từ nay trở đi, đối với Chánh pháp của Như Lai, chịu không còm nhiễu hại nữa chứ ?

Ba Tuần nói:

- Con nguyện hồi hướng theo Phật, vĩnh viễn đoạn trừ bất thiện.

Tôn giả bảo:

- Nếu thế, chính miệng người phải tự nói: “Quy y Tam Bảo”.

Ma vương chấp tay xướng lên ba lần như vậy, vòng hoa biến mất. Ba Tuần hết sức hoan hỷ, hồ hởi làm lễ tạ Tôn giả và đọc kệ:

Phiên âm:

Khể thủ tam muội tôn

Thập lực Thánh đệ tử

Ngã kim nguyện hồi hướng

Vật linh hữu liệt nhược.

Tạm dịch:

          Đảnh lễ Đấng Tam-muôi

          Thánh đệ tử thập lực

Con nay nguyện hồi hướng

Dũng mãnh thật hết mực.

Tôn giả truyền bá đạo pháp trong đời, rất nhiều người chứng đạo. Mỗi lần độ được một người là ngài đặt một thẻ tre vào thạch thất. Ngôi thất dài 18 thước, rộng 12 thước, chất đầy cả thẻ.

Sau hết có người con ông trưởng giả tên Hương Chúng đến làm lễ Tôn giả, xin được xuất gia, Tôn giả hỏi:

- Ông xuất gia cái thân hay xuất gia cái tâm ?

Người đó đáp: 

- Con đến đây xuất gia chẳng vì thân tâm.

Tôn giả hỏi:

- Chẳng vì thân tâm thì vì ai mà xuất gia ?

- Phàm, kẻ xuất gia không có cái ngã của mình, không có bản ngã riêng mình, tức tâm chẳng sanh diệt; tâm không sanh diệt tức là đạo thường. Tâm chư Phật cũng chẳng hình tướng, cái thể cũng vậy.

Tôn giả nói:

- Ông đã đại ngộ, tâm tự thông đạt, nên quy y Phật pháp tăng làm rạng rỡ hạt giống Thánh.

Cúc Đa làm lễ xuống tóc cho rồi trao đủ các giới, nhưng dặn dò:

- Thân phụ ông nhân nằm mộng thấy mặt trời vàng mà sanh ra ông, vậy đặt tên là Đề Đa Ca.

Ngài lại bảo:

- Như Lai đem nhãn tạng đại Pháp lần lượt truyền trao mới đến ta, nay ta lại truyền cho ông. Hãy nghe kệ ta đây:

Phiên âm:

Tâm tự bản lai tâm      

Bản tâm phi hữu pháp

Hữu pháp hữu bản tâm        

Phi tâm phi bản pháp.

Tạm dịch:

Tâm từ tâm xưa kia

Ta đó không có pháp

Có pháp, có bản tâm

Không tâm, không bản pháp.

Truyền pháp xong, Tôn giả vọt thân trên không, hiện 18 biến rồi hạ trở lại chỗ ngồi cũ, ngồi kiết già mà tịch. Đề Đa Ca đem thẻ tre trong thất ra dùng trà tì xác thầy, đoạn thu nhặt xá-lợi, lập tháp cúng dường.

Lúc ấy, nhằm vào thời vua Bình Vương, năm thứ 30, Canh Tý. (Chú: Bản đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều chép năm thứ 31, nhưng Tống, Nguyên đều chú ‘nên kể 30 năm’).

Các loại sách cùng loại
Thông báo
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Góc nhìn từ cuộc sống
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Giới thiệu văn hóa phẩm
Câu chuyện cuối tuần
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Copyright thienvacuocsong

Lượt truy cập : 7
Tổng truy cập : 3162203

© 2013 : Chùa Thiên Trì
Chùa Thiên Trì chỉ có 1 website tại địa chỉ

http://phatgiaobinhchanh.com/

Mong độc giả lưu ý

Địa chỉ: Cơ sở 1: CHÙA THIÊN TRÌ, số B15/20, xã Bình Hưng, Bình Chánh, Tp. HCM

Cơ Sở 2 :THIỀN VIỆN PHÚC LONG, thôn Nguyệt Hạ, xã Yên Tân, Ý Yên- Nam Định.
Điện thoại: 0908400155

Emailthientri.bc@gmail.com  hoặc chuathientri.binhchanh@gmail.com
Websitehttp://phatgiaobinhchanh.com/