Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (Q1.1)
  • Lượt xem: 3808

CẢNH ĐỨC TRUYỀN ĐĂNG LỤC

QUYỂN 1

Sa-môn Đạo Nguyên đời Tống soạn

Nội dung:       

  1. A.              BẢY PHẬT:
  2. Phật Tì Bà Thi
  3. Phật Thi Khí
  4. Phật Tì Xá Phù
  5. Phật Câu Lưu Tôn
  6. Phật Câu Na Hàm Mâu Ni
  7. Phật Ca Diếp
  8. Phật Thích Ca Mâu Ni
  9. B.          MƯỜI LĂM TỔ Ở TÂY TRÚC:

(Trong đó một Tổ bàng xuất không ghi chép)

  1. Tổ thứ nhất Ma Ha Ca Diếp
  2. Tổ thứ hai A Nan
  3. Bàng xuất Mạt Điền Để Ca
  4. Tổ thứ ba Thương Na Hòa Tu
  5. Tổ thứ tư Ưu Ba Cúc Đa
  6. Tổ thứ năm Đề Đa Ca
  7. Tổ thứ sáu Di Giá Ca
    1. Tổ thứ bảy Bà Tu Mật
    2. Tổ thứ tám Phật Đà Nan Đề
    3. Tổ thứ chín Phục Đà Mật Đa
    4. Tổ thứ mười Hiếp Tôn giả
    5. Tổ thứ mười một Phú Na Dạ Xa
      1. Tổ thứ mười hai Đại sĩ Mã Minh
      2. Tổ thứ mười ba Ca Tì Ma La
    6. Tổ thứ mười bốn Đại sĩ Long Thọ.

 BẢY ĐỨC PHẬT

C

hư Phật Cổ Xưa ứng với thế gian, trải nối không cùng, chẳng thể lấy số chu kỳ mà tính hết được. Thời Hiền kiếp cận cổ tính được có 1.000 đấng Như Lai xuất hiện. Đến Đức Thích Ca tính được bảy Đức Phật. Theo kinh Trường A Hàm ghi: “Lực tinh tấn của bảy vị Phật phóng ra ánh sáng, diệt hết mọi tối tăm, các Ngài đều ngồi dưới gốc cây mà thành chánh giác tại đó”. Lại có ngài Mạn Thù Thất Lợi, là Tổ sư trong thời bảy vị Phật. Đại sĩ Kim Hoa Thiện Huệ lên đỉnh Tùng Sơn hành đạo, cảm ngộ thất Phật dẫn đầu và ngài Duy Ma nối tiếp. Nay ghi lại sự việc kể từ bảy Đức Phật đến sau này.

 PHẬT TÌ BÀ THI

P

hật Tì Bà Thi, ở kiếp Trang Nghiêm thời quá khứ, là vị Phật thứ 998. Kệ rằng:

Phiên âm:

Thân tòng vô tướng trung thọ sanh

Do như huyễn xuất chư hình tượng

Huyễn nhân tâm thức bản lai vô

Tội phúc giai không, vô sở trụ.

Tạm dịch:

Thân thọ sanh từ nơi không tướng

Như trong ảo, nẩy sinh hình tượng

Người huyễn, tâm thức bản lai không

Tội phúc đều không, chẳng chỗ vướng.

Kinh Trường A Hàm ghi: “Vào lúc con người thọ đến vạn tuổi, Đức Phật Tì Bà Thi ra đời”. Ngài thuộc dòng Sát lợi, họ Câu-lợi-nhã, cha tên Bàn-đầu, mẹ là Bàn-đầu-bà-đề. Ngụ tại thành Bàn-đầu-bà-đê, Ngài ngồi dưới cội cây Ba-ba-la, thí pháp ba hội, độ được 348.000 người. Hai đệ tử đứng đầu là Kiều trà và Đề-xá. Thị giả là Vô Ưu Tử, Phương Ưng.

PHẬT THI KHÍ

P

hật Thi Khí xuất hiện vào kiếp Trang Nghiêm, thuộc hàng thứ 999. Kệ rằng:

Phiên âm:

Khởi chư thiện pháp bản thị huyễn

Tạo chư ác nghiệp diệc thị huyễn

Thân như tụ mạt, tâm như phong

Huyễn xuất vô căn, vô thực tánh.

Tạm dịch:

Pháp lành khởi sinh — vốn là huyễn

Tạo nên nghiệp ác — cũng là huyễn

Thân như bọt sủi, tâm như gió

Huyễn ảo không căn, tánh không hiển.

Kinh Trường A Hàm chép: “Vào lúc con người thọ tới 70.000 tuổi thì Phật Thi Khí xuất hiện”. Ngài thuộc dòng Sát-lợi, họ Câu-lợi-nhã. Cha tên Minh Tướng, mẹ là Quang Diệu. Ngụ tại thành Quang Tướng, Ngài ngồi dưới cội cây Phân-đà-lợi, thuyết pháp ba hội, độ được 250.000 người. Hai cao đệ là A-tì-phù và Bà-bà. Thị giả là Nhẫn Hạnh, Tử Vô Lượng.

 PHẬT TÌ XÁ PHÙ

P

hật Tì Xá Phù xuất hiện ở Kiếp Trang Nghiêm. Là Phật thứ 1000. Kệ rằng:

Phiên âm:

Giả tá tứ đại dĩ vi thân

Tâm bản vô sanh, nhân cảnh hữu

Tiền cảnh nhược vô, tâm diệc vô

Tội phúc như huyễn, khởi diệc diệt.

Tạm dịch:

Mượn bốn vật giả làm thân thể

Tâm vốn không, do cảnh thành thiệt

Cảnh chẳng có, tâm cũng biến mất

Tội phước như ảo, khởi rồi diệt.

Kinh Trường A Hàm chép: “Khi con người thọ mạng đến 60.000 tuổi, Phật Tì Xá Phù ra đời”. Ngài thuộc dòng Sát-lợi họ Câu-lợi-nhã. Cha tên Thiện Đăng, mẹ là Xứng Giới. Ngụ tại thành Vô Dụ, Ngài ngồi dưới cây Bà-la, thuyết pháp hai hội, độ được 130.000 người. Hai cao đệ là Phù-du và Uất-đa-ma. Thị giả là Tịch Diệt, Tử Diệu Giác.

 

PHẬT CÂU LƯU TÔN

P

hật Câu Lưu Tôn xuất hiện đầu tiên trong Hiền Kiếp. Là vị Phật thứ nhất. Kệ rằng:

Phiên âm:

Kiến thân vô thực thị Phật thân

Liễu tâm như huyễn thị Phật huyễn

 Liễu đắc thân tâm bản tánh không

Tư nhân dữ Phật hà thù biệt.

Tạm dịch:

Thấy thân không thực - ấy Phật thân

Hiểu tâm như huyễn - ấy Phật huyễn

Rõ biết thân tâm bản tánh không

Loài người cùng Phật, nào khác gì.

Kinh Trường A Hàm ghi: "Lúc con người tuổi thọ đến 40.000 năm thì vị Phật này ra đời”. Ngài thuộc dòng Bà-la-môn, họ Ca Diếp. Cha là Lễ Đắc, mẹ tên Thiện Chi. Ngụ thành An Hòa, Ngài ngồi dưới cội cây Thi-lợi-sa giảng pháp một hội, độ được 40.000 người. Hai cao đệ là Tát-ni và Tì-lâu. Thị giả là Thiện Giác, Tử Thượng Thắng.

 PHẬT CÂU NA HÀM MÂU NI

hật Câu Na Hàm Mâu Ni - Đức Phật thứ hai trong Hiền Kiếp. Kệ rằng:

Phiên âm:

Phật bất kiến thân tri thị Phật

Nhược thực hữu tri, biệt vô Phật

Tri giả năng tri tội tánh không

Thản nhiên bất bố ư sanh tử.

Tạm dịch:

Chẳng nhìn thấy thân biết là Phật

Nếu như hay biết, không phải Phật

 Kẻ trí biết rằng tội tánh không

An nhiên nào sợ chi sinh tử.

Kinh Trường A Hàm ghi: “Khi con người thọ đến 30.000 tuổi thì Phật Câu Na Hàm xuất hiện”. Ngài thuộc dòng Bà-la-môn họ Ca Diếp. Cha là Đại Đức, mẹ tên Thiện Thắng. Ngụ tại thành Thanh Tịnh, Ngài ngồi dưới cội cây Ô-tạm Bà-la-môn, thuyết pháp một hội, độ được 30.000 người. Hai cao đệ là Thư-bàn-na và Uất đa-lâu. Thị giả là An Hòa, Tử Đạo Sư.

 

PHẬT CA DIẾP

 

Phật Ca Diếp — Đức Phật thứ ba trong Hiền Kiếp. Kệ rằng:

 

Phiên âm:

 

Nhất thiết chúng sinh tánh thanh tịnh

 

Tòng bản vô sanh, vô khả diệt

 

Tức thử than tâm thị huyễn sanh

 

Huyễn hóa chi trung vô tội phúc.

 

Tạm dịch:

 

Hết thảy chúng sinh tánh thanh tịnh

 

Từ gốc không sanh nên chẳng diệt

 

Thân tâm này đây sanh từ huyễn

 

Trong chốn huyễn hóa, không tội phúc.

 

Kinh Trường A Hàm chép: “Khi con người thọ mạng đến 20.000 tuổi thì Phật Ca Diếp ra đời”. Ngài thuộc dòng Bà-la-môn, họ Ca Diếp. Cha là Phạm Đức, mẹ là Tài Chủ. Ngụ tại thành Ba-la-nại, Ngài ngồi dưới cây Ni-câu-luật, thuyết pháp một hội, độ được 20.000 người. Hai cao đệ là Đề-xá và Bà-la-bà. Thị giả là Thiện Hữu, Tử Tập Quân.

 PHẬT THÍCH CA MÂU NI

P

hật Thích Ca Mâu Ni - Đức Phật thứ tư trong Hiền Kiếp  Ngài thuộc dòng Sát-lợi. Cha là Tịnh Phạn Thiên, mẹ là Đại Thanh Tịnh Diệu, ở cương vị thay thế Phật, Ngài sinh ra trên cõi trời Đâu-suất, có tên là Thắng Thiện Thiên Nhân lại tên khác là Hộ Minh Đại sĩ (Bồ-tát). Ngài đã cứu độ các chúng thiên trên cõi trời, giảng hạnh Bổ Xứ, hiện thân thuyết pháp trong khắp 10 phương thế giới. Kinh Phổ Diệu chép: Ban đầu, Phật sinh vào dòng vương gia Sát-lợi, phóng ra ánh sáng Đại Trí chiếu khắp 10 phương thế giới. Đất nẩy hoa sen vàng đỡ hai bàn chân đi. Theo bốn hướng Đông Tây và Nam Bắc, mỗi hướng Ngài đều đi bảy bước. Đoạn tay chỉ lên trời, tay chỉ xuống đất, cất tiếng hùng hồn của con sư tử: “Trên dưới cùng bốn phương giáp, không ai tôn quý hơn ta”. Lúc ấy nhằm ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Dần, đời vua Chiêu Vương nhà Chu (Trung Hoa) năm thứ 26 (Các bản Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều chép là 24).

 Ngày mùng 8 tháng 8 năm thứ 42 (đời Chu Chiêu Vương) vừa khi 19 tuổi, Ngài muốn xuất gia, lòng nẩy sinh ý niệm: “Nay phải gặp ai đây ?”. Bèn đi dạo quanh ngoài bốn cửa thành, nhìn thấy bốn sự việc, lòng sinh ra buồn vui lẫn lộn, nghĩ rằng: “Đây là già lão, bịnh tật, chết chóc — rốt cùng đều đáng chán”. Thế rồi, vào giờ Tý đêm ấy, có một vị Thiên nhân tên Tịnh Cư, chấp tay đi qua cửa sổ bạch: “Giờ xuất gia đã đến, đi được rồi đấy ! Thái tử nghe xong lòng rất hoan hỷ, bèn lén vượt thành ra đi.

Ngài đến núi Đàn-đặc tu hành, trước học đạo với A-lam-ca- lam trong ba năm, học định Bất dụng xứ; biết là không đúng được bèn bỏ ra đi.

Ngài lại đến học ba năm với thầy Uất-đầu-lam-phất, học Phi phi tưởng, cũng thấy là không đúng bèn bỏ ra đi. Thái tử đến núi Tượng Đầu sông cùng các ngoại đạo, mỗi ngày dùng hạt mè, hạt mạch. Trải sáu năm như vậy, cho nên Kinh mới viết: “Ngài đã dùng ý vô tâm, hạnh không chấp thụ mà nhiếp phục các ngoại đao”. Thái tử trước hết đã thử mọi tà pháp, thực hiện các phương tiện loại trừ kiến chấp, khiến thành đạo vô thượng. Vì vậy mà kinh Phổ Tập chép: “Vào ngày mùng 8 tháng 2, khi ánh sao mai vừa xuất hiện thì Bồ-tát (Hộ Minh) thành đạo, hiệu là Thiên Nhân Sư vừa khi 30 tuổi, nhằm vào năm Quí Mùi, đời vua Mục Vương, năm thứ 3.”

Sau khi thành đạo, Phật đến vườn Lộc Uyển chuyển pháp luân, giảng bốn Thánh đế cho năm người các ông Kiều Trần Như để chuyển đạo quả. Đức Phật đã trụ thế và thuyết pháp trong 49 năm, sau đó nói với Đại Ca Diếp:

- Nay ta đem Pháp nhãn thanh tịnh, diệu tâm Niết-bàn, thực tướng vô tướng, là chánh pháp vi diệu, giao lại cho ông, ông nên hộ trì.

Đoạn lại bảo A Nan:

- Ông là người thứ hai nối tiếp truyền bá, không nên để đứt đoạn.

Và Ngài nói kệ:

Phiên âm: 

Pháp bản pháp vô pháp

Vô pháp pháp diệc pháp

Kim phú vô pháp thời

Pháp pháp hà tằng pháp.

Tạm dịch:

Pháp gốc pháp không pháp

Pháp không pháp cũng pháp

Nay lúc trao pháp không

Pháp pháp đâu từng pháp ?

Lúc ấy, Đức Thế Tôn nói kệ xong, Ngài lại bảo Ca Diếp:

- Ta trao cho ông chiếc y vàng Tăng-già-lê, nên nối nhau truyền cho người thừa kế cho đến khi Phật Di Lặc xuất thế, chớ làm hư hoại.

Ca Diếp nghe kệ, cúi đầu đảnh lễ chân Phật nói:

- Lành thay ! Lành thay ! Con nay y lệnh, vâng lời Phật dạy, vâng lời Phật dạy.

Lúc bấy giờ, Phật đến thành Câu-thi-na, bảo cùng đại chúng:

-  Ta nay đau lưng, sắp vào Niết-bàn.

Và Ngài đến bên bờ sông Ni-liên, dưới gốc hai cây Sa-la, nằm nghiêng bên phải, chân duỗi xếp lên nhau, an nhiên thị tịch. Sau đó, Thế Tôn lại từ quan tài ngồi dậy, giảng pháp cho thân mẫu. Đặc biệt thị hiện hai chân thị hiện hóa (Bà Kỳ) và tuyên thuyết bài kệ vô thường:

 

Phiên âm:

Chư hành vô thường

Thị sanh diệt pháp

Sanh diệt diệc dĩ

Tịch diệt vi lạc.

Tạm dịch:

Các hành vô thường

Là pháp sanh diệt

Sanh diệt diệt rồi

Tịch diệt là vui.

Các môn đồ bèn tranh nhau dùng củi hương trà tì. Sau khi thiêu xong, kim quan vẫn như cũ. Lúc bấy giờ, đồ chúng đứng trước Phật đọc lời tán thán:

Phiên âm:

Phàm tục chư mãnh xí

Hà năng trí hỏa nhiệt

Thỉnh Tôn Tam-muội hỏa

Xà duy kim sắc thân.

Tạm dịch:

Ngọn lửa mạnh thế gian

Làm sao thiêu đốt tan ?

Thỉnh cầu lửa Tam-muội

Trà tì sắc thân vàng.

Khi ấy, kim quan từ giàn cất lên, cao bảy cây Đa-la, bay tới lui trong  không trung, hóa thành lửa Tam-muội; phút chốc thành tro, thu được tám hộc bốn đấu Xá-lợi. Lúc ấy nhằm ngày 15 tháng 5 Nhâm Thân, đời vua Mục Vương, năm thứ 52. Từ khi thế Tôn nhập diệt, qua 1.017 năm, đạo pháp đã truyền đến Trung Quốc, nhằm vào thời Hậu Hán, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (Hán Minh Đế), năm Mậu Thìn. CLICK VÀO ĐÂY ĐỂ ĐỌC TIẾP

Các loại sách cùng loại
Thông báo
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Góc nhìn từ cuộc sống
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Giới thiệu văn hóa phẩm
Câu chuyện cuối tuần
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Copyright thienvacuocsong

Lượt truy cập : 10
Tổng truy cập : 3162642

© 2013 : Chùa Thiên Trì
Chùa Thiên Trì chỉ có 1 website tại địa chỉ

http://phatgiaobinhchanh.com/

Mong độc giả lưu ý

Địa chỉ: Cơ sở 1: CHÙA THIÊN TRÌ, số B15/20, xã Bình Hưng, Bình Chánh, Tp. HCM

Cơ Sở 2 :THIỀN VIỆN PHÚC LONG, thôn Nguyệt Hạ, xã Yên Tân, Ý Yên- Nam Định.
Điện thoại: 0908400155

Emailthientri.bc@gmail.com  hoặc chuathientri.binhchanh@gmail.com
Websitehttp://phatgiaobinhchanh.com/